Bức tranh John Barrow vẽ một nhóm người ở một làng trong vịnh Turon, tức vịnh Đà Nẵng ngày nay vào năm 1793, đã được các nhà nghiên cứu cũng như các bài viết về Đà Nẵng, Hội An nói riêng và Xứ Đàng Trong nói chung sử dụng nhiều. Thế nhưng, mặc dù vậy, những nhân vật với y phục như đàn ông mặc váy, đầu vấn khăn lớn Truban như người Nam Á, thậm chí là phụ nữ ở trần ấy vẫn khó hình dung, thậm chí khó tin với người đọc hôm nay và nó luôn tạo nên một cảm giác về sự cường điệu nào đó. Đã có ý kiến cho rằng hình như Barrow đã vẽ theo thói quen hơn là tả thực, có thể là ông đã đi qua các nước Nam Á, dừng lại lâu ở Malay và Indo cho nên ông mới vẽ vậy chứ người Đà Nẵng cách nay mới chỉ hơn 200 năm mà y phục xa lạ đến vậy thì không thể. Hơn nữa người phụ nữ Việt Nam kể từ sau thời vua Hùng thì đã không còn ở trần nữa!
Hồ Trung Tú
Tôi cũng đã từng nghĩ vậy, chỉ ngờ ngợ cảm thấy rằng nếu quả thực như thế thì bức tranh cũng vẫn phải chứa một thông tin nào đó chứ không thể chỉ xem cho vui như vậy được, chỉ tiếc rằng từ bản đầu tiên trích dẫn cho đến bây giờ đã được sao chụp nhiều lần nên hầu hết đã mất nét. Cho đến hôm gần đây, trong một chiếc tủ sách đầy bụi cũ ở Hội An, tôi đã lặng người đi khi nhìn thấy cuốn sách cả bìa lẫn ruột đều đã ố vàng "A Voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793" của John Barrow in năm 1806 ở London với rất nhiều những bức tranh minh hoạ bằng bút chì. Và không thể tin được là những bức tranh quen thuộc ấy lại là tranh màu! Sau khi chụp lại và xóa đi lớp màu thời gian ố vàng trên trang giấy bằng Photoshop, chúng tôi đã có những bức tranh màu nước thật đẹp. Nhìn những bức tranh Barrow vẽ trái măng cụt và chôm chôm, cũng như vẽ một buổi diễn tuồng với cả trăm nhân vật đứng xem tôi mới biết là bút pháp tả thực của Barrow là khả thi và không nên nghi ngờ. Ví dụ như bức ông mô tả một buổi cúng lễ tín ngưỡng cho một cái am nhỏ trên cây, ông viết:
"Cuộc đổ bộ từ thuyền của chúng tôi lên một cái vịnh nhỏ ở vùng đất phía bắc vịnh Turon trong một chiều sáng sủa. Tôi quan sát thấy một người trong một cái áo thụng vàng nhạt dài chấm đất, đầu ông ta trọc vì cạo tỉ mỉ, bước đi một cách khoan thai, nhịp nhàng về phía một cái cây tán lá trải rộng um tùm, và theo sau là vài người nông dân. Đến chân cái cây to, tất cả họ tạm nghỉ. Chỉ ở trên đầu của thân cây ( cùng loài với cây Ficus Indica hoặc Banyan, người Cochin gọi là "Dea", loại cây ra rễ từ cành và trở thành thân cây) tôi quan sát thấy một cái lồng được làm thành lưới mắt cáo với một đôi cửa đóng mở được . Trong đó là một tượng gỗ có thể là Phật hoặc Fo (?), hình dạng béo tốt trong tư thế ngồi thường thấy miêu tả trong các chùa Trung Hoa. Một đứa bé trai phụ lễ đứng yên thành kính bưng một cái lò than đốt toả khói thơm. Một nông dân cẩn thận vác một cái thang bằng tre, chống lên cây, rồi trèo lên đặt vào trong lồng, trước tượng thần, 2 bát cơm, một cốc đường và một cốc muối. Vị thầy tế dang rộng hai tay và mắt mở về phía thiên đường, thì thầm điều gì đó trong một âm thanh trầm trầm. Rồi người đàn ông đã mang cái thang quỳ xuống trên hai đầu gối của mình và 9 lần phủ phục cơ thể anh ta trên đất y theo kiểu mà người Hoa thường lạy. Vài người phụ nữ và trẻ con còn lại giữ một khoảng cách, như là bị cấm đến gần". Chúng ta hiểu Barrow đã thực sự vẽ những gì đúng như ông đã nhìn thấy chứ không phải do thói quen hoặc trường phái.
Tranh Barrow vẽ buổi tế lễ tại VN cách đây hơn 200 năm.
Với bức vẽ "Một nhóm người Cochichina" ấy Barrow chỉ viết đơn giản: "Người phụ nữ quý phái mặc cùng lúc đến ba hoặc bốn cái áo choàng, chỉ khác nhau về màu sắc và chiều dài, cái ngắn nhất thì ở cao nhất". Barrow dành nhiều chữ để mô tả tính cách và con người Đà Nẵng 212 năm trước chứ ít chịu mô tả quần áo, tôi lục lại các tư liệu cổ, và thật lý thú, có nhiều chuyện thật đáng để bàn từ bức tranh đã được nhiều người biết này.
Mô tả cách ăn mặc của người huyện Điện Bàn (bao gồm cả các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Hội An, Hòa Vang, Đà Nẵng nay) vào năm 1553, Dương Văn An viết trong "Ô Châu Cận Lục": " "Đàn bà mặc váy Chiêm, đàn ông dùng quạt Bắc. Để tỏ sang hèn đồ dùng chẳng vẽ phượng thì rồng; phân biệt tôn ti, quần áo chẳng tô hồng thì tía".
Năm 1621, Cristophoro Borri, một vị cha đạo viết báo cáo về toà thánh, mô tả cái "váy Chiêm" ấy như sau: " Họ mặc tới năm sáu váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia, và tất cả có màu sắc khác nhau. Cái thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không trông thấy đầu ngón chân. Sau đó là cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng bốn hay năm đốt ngón tay, rồi cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế trong số còn lại theo tỉ lệ cái nọ ngắn hơn cái kia, để cho màu sắc đều được phô bày trong sự khác biệt của mỗi tấm".
Maspero qua khảo sát y phục của người Mã Lai và qua các ghi chép cổ của Trung Hoa (như Lượng Thư, Tuỳ Thư, Cựu Đường Thư...) đã khái quát y phục của người Chàm như sau: "Y phục họ mặc ngày xưa và y phục họ đang còn mặc ngày nay không khác gì y phục của người Mã Lai: Nó là một mảnh vải gọi là Kama quấn quanh người từ phải sang trái và che từ ngang thắt lưng đến chân. Ngoài miếng vải đó ra cả đàn ông và đàn bà đều không mặc gì thêm nữa, trừ về mùa đông họ mặc một áo dài. Họ bối tóc, đàn bà thì bối thành hình cái búa..."
Bức tranh của Barrow vẽ rõ người phụ nữ búi tóc hình cái búa và ở trần, người đàn ông thì mặc váy Kama. Và có phải người đứng ngoài cùng bên trái ấy là mặc loại "mốt" váy nhiều tầng của một "quý bà" suốt 200 năm không thay đổi ? Hình ảnh người phụ nữ ở trần còn thấy khá rõ trong bức tranh Barrow vẽ "Một người lính ở Cochinchina".
Thế là đã rõ, Barrow đã vẽ một nhóm cư dân ở quanh vịnh Đà Nẵng mà nhóm cư dân này vẫn còn ảnh hưởng rất nhiều những phong tục tập quán của người Chàm cũ.
Vấn đề đặt ra là tại sao đến lúc ấy, 1793, mà cư dân Đà Nẵng vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hoá Chàm đến vậy, một nền văn hoá mà chủ nhân của nó đã thực sự mất chủ quyền từ 322 năm trước, tức năm 1471, năm Lê Thánh Tông sát nhập hẳn Chiêm Thành vào Đại Việt. Đó là nói vùng Bình Định, chứ vùng Đà Nẵng thì đã được người Việt kiểm soát ngay từ 1306 với đám cưới công chúa Huyền Trân, đến khi Barrow đặt vẽ bức tranh ấy thì đã ngót nghét 500 năm!
500 năm là quãng thời gian dài đằng đẵng, thế nhưng văn hoá Chăm vẫn dai dẳng sống, chí ít là cho đến lúc đó, lúc Barrow vẽ bức tranh ấy. Và tại sao mà nó lại có thể tồn tại dai dẳng đến như vậy được? Và tại sao mà đến bây giờ tất cả họ, những người mặc váy Kama, đầu đội khăn xếp Turban và phụ nữ thì ở trần ấy, đều biến đi đâu cả rồi mà không còn một lại một dấu vết nhỏ nào? Và tại sao mà họ đã giằng dai giữ được bản sắc văn hoá của mình suốt 500 năm nhưng lại không giữ được một mảy may, cả trong truyện cổ và ký ức, 200 năm còn lại sau này?
Thì ra chiếc nón quai thao là đặc trưng của người Việt trên toàn quốc chứ không phải như bây giờ chỉ còn thấy ở Bắc Ninh. Trong bức tranh, 3 nhân vật áo quần nhiều nhất, người thì cầm dù, người đội nón là có nhiều nét thuần Việt quen thuộc, và cả ba trên vai hoặc trên ngực đều đeo một túi, hoặc một tấm như thẻ bài, hoặc có thể là túi trầu.
Liệu có thể được không rằng từ bức tranh này mà hình dung nên bối cảnh xã hội của người Đà Nẵng trong suốt 500 từ đầu thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 19! Phải chăng một số người Việt rất ít sống lẫn hoặc làm quan và cai trị những làng thuần người Chăm và rất nhiều những làng Chàm vẫn nguyên vẹn suốt 500 năm sau khi thuộc về Việt và chỉ sang thế kỷ 19, 20 họ mới quên đi gốc gác và trở thành chính mỗi người chúng ta mà không tự biết!
200 nhìn lại, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng về hình ảnh ông bà mình trong một quá khứ chưa phải là xa lắm như thế. Và chính điều đó đã khiến chúng ta phải đi tìm lại những gì "đích thực của Cesar" để có thể từ đó giải thích được những điều mà ta gọi là bản sắc người Đà Nẵng, Quảng Nam hôm nay.
Cảnh hát Bội ở Đàng Trong
Những chi tiết trong bức tranh "Một cảnh hát bội ở Đàng Trong" này, như các chữ Hán, các trang phục và động tác diễn viên, cho thấy Barrow đã mô tả, ký họa rất thực chứ không hề là sự công thức hoặc ảnh hưởng bởi các vùng đất đã qua.
Thật kỳ lạ, những cứ liệu về người Chăm ở Quảng Nam, Đà Nẵng cuối thế kỷ 17, trước khi Gia Long lên ngôi, thì còn đó, thậm chí chúng ta còn có cả những hình ảnh để nhìn thấy người Đà Nẵng lúc ấy ăn mặc ra sao, bao nhiêu phần trăm bản sắc người Chăm trong lối sống, trong tín ngưỡng, trong trang phục. Thế nhưng kể từ khi Gia Long lên ngôi thì "họ" hầu như biến mất! Tất cả dân cư Đà Nẵng, nói rộng hơn là cả các tỉnh Nam Trung Bộ, như một khối đồng nhất, thuần chủng, có họ, có tên, có cội nguồn gốc gác, tất cả đều di cư từ Bắc hoặc Thanh - Nghệ vào... Những người Chăm, chí ít là những người Chăm trong các bức tranh của Barrow vẽ ở Đà Nẵng, họ đã biến đi đâu vậy mà không để lại một dấu vết nào cả? Chiếc nón quai thao biến mất trong trang phục người Việt, và nhất là chiếc váy kama, chiếc khăn đội đầu ở cả nam và nữ. Nó biến mất từ bao giờ vậy?
Và trong một lần nói chuyện với những người cao tuổi ở Đại Lộc chúng tôi bất ngờ nhận ra một chút ánh sáng từ cuối đường hầm, đó là chiếc quần trật bù lươn đến giờ chỉ còn là một tên gọi "quen quen" chứ hoàn toàn không gợi lên bất cứ hình ảnh nào.
Theo ông Lương Viên (sinh năm 1920) làm nghề thợ may, quê ở Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam thì chiếc trật bù lương là một chiếc quần của người lao động, nó rất lạ, rộng thùng thình, đáy quần ở rất thấp nên khi cần lội thì kéo lên được rất cao, trở thành như một chiếc quần đùi. Phần trên thắt lưng cũng chừa ra một đoạn vải có thể trùm qua người. Lúc bình thường, đoạn vải này cuộn lại quanh bụng, trong đó gói chưa nhiều thứ như trầu, thuốc, đá lửa, dao xếp... tạo thành một bọc to bên bụng. Chính vì vậy mà nó có tên trật bù lươn, gợi lên một cái dải tròn quanh bụng, một túi trật ra ngoài bên bụng.
Theo anh Đỗ Xuân Quang, sinh năm 1946 ở Đại Cường, Đại Lộc, Quảng Nam thì đến giai đoạn khoảng trước năm 1960 ở Đại Lộc vẫn còn vài người tầng lớp thấp, chuyên lao động thuê theo thời vụ, mặc loại quần như vậy. Không thấy ai tầng lớp vai vế trong xã hội mặc quần này. Anh nhớ làng Ô Gia có ông Năm, ông Ôn; làng Khánh Vân (Thanh Vân) có ông Trung, ông Kỳ... mặc quần trật bù lươn luôn, và cũng chỉ có cái quần trật bù lươn chứ không thấy lúc nào họ mặc áo. Tất cả họ đều làm nghề gắn bó với cây tre như làm cối xay lúa, chẻ tre đan phên, đan rổ, đan nong nia...
Trong bức ảnh được chụp ở một chợ miền Trung cuối thế kỷ 19 này chúng ta thấy quả thật xã hội có hai loại quần dành cho người đàn ông. Người đàn ông mặc áo the đen phần trên ảnh rõ ràng mặc chiếc quần không giống với nhân vật chính của ảnh và phải chăng đó chính là chiếc trật bù lươn chúng ta đang nói tới? Và anh ta hình như đã có chiếc quần mới màu trắng bên trong thế nhưng vẫn phủ bên ngoài chiếc quần như là truyền thống bản sắc nào đó mà nay ta không thể biết.
"Một người lính ở Cochinchina".
Liên tưởng chợt lóe lên trong chúng tôi, phải chăng chính chiếc kama, chiếc xà rông của người Chăm xưa, của người Đà Nẵng vào năm 1793 ta thấy trong tranh vẽ của Barrow ấy đã biến tướng thành chiếc quần trật bù lươn vừa nói? Phải chăng chuyện "cấm quần không đáy" chính là cấm đàn ông mặc váy kama chứ không phải cấm đàn bà mặc váy! Hiểu cấm quần không đáy là cấm đàn bà mặc váy do sự quan liêu của bộ máy hành chính, lệnh vua cấm đàn ông phương Nam mặc váy nhưng lệch chỉ vẫn đưa ra Bắc và được hiểu một cách khôi hài châm biếm qua các câu ca dao:
Tháng Chín có chiếu vua ra:
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi ra bóc lột quần chồng sao đang.
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần đứng nấp đầu làng trông quan.
Ngay cả câu: "Cái thúng mà thủng hai đầu - Bên ta thì có, bên Tầu thì không" thì cũng không có gì chắc chắn đó là nói cái váy, cái mấn của phụ nữ Bắc Bộ. Bởi đơn giản một điều rằng cái váy phụ nữ không phải chỉ có ở đồng bằng Bắc bộ mà hầu hết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và Trung Quốc đều mặc váy. Và ngay cả bản thân người phụ nữ Trung Quốc cũng không phải không mặc váy. Chỉ có một thứ váy "bên ta thì có bên Tàu thì không" đó chính là cái kama, cái xà rông của người đàn ông Đàng Trong.
*
Như vậy là chí ít chúng ta cũng đã có bằng chứng về "Người Chàm ở lại" và họ vẫn giữ nguyên được bản sắc, phong tục lối sống của mình cho đến 1802. 500 năm đằng đẳng đã trôi qua kể từ sự gặp nhau giữa hai bản sắc Chăm - Việt, cuộc va chạm giữa hai nền văn minh lớn nhất của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa ấy hình như đã để lại đâu đó trong tâm hồn người Quảng Nam hôm nay một dấu vết nào đó; họ như luôn phải trung thành với một niềm tin nào đó, một lý tưởng nào đó. Không thế họ đã không thể tồn tại!
Một sắc chỉ nào đó, một quy định nào đó dưới triều Nguyễn đã khiến họ phải từ bỏ tất cả trong thời gian ngắn để hòa nhập triệt để vào cộng đồng người Việt ngày càng đông, rồi quên dần bản sắc mình, chỉ còn phản phất đâu đó, hoặc cũng có thể còn rất đậm mà chúng ta không thể tự biết, tính cách, lối sống của người Chàm xưa mà ta hay gọi là bản sắc Quảng Nam?
Để kết thúc bài viết này chúng tôi xin mượn một ghi chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí chép về xã hội tỉnh Bình Thuận (bao gồm cả Ninh Thuận ngày nay) vào cuối thế kỷ 19 để hình dung nên phần nào xã hội Quảng Nam vào các thế kỷ từ 14 đến 18: "Người Kinh người Thổ ở lẫn.. đàn ông mặc quần áo người Kinh, đàn bà mặc quần áo người Thổ, tang hôn tế tự đều đại khái giống tục người Kinh. Tương truyền là người Kinh Thuận Hoá đến đây, lấy vợ người Thổ, lâu ngày sinh nở thành đông, cho nên dân đã đồng hoá". Hiện nay về Bình Thuận, Ninh Thuận hình ảnh "ở lẫn" ấy cũng như cách ăn mặc cũng như tang hôn tế tự ấy không còn thấy nữa, sự phân biệt giữa người Kinh và người Chăm ø đã rõ ràng.
Vậy, những người, những gia đình mà "Đàn ông mặc quần áo người Kinh, đàn bà mặc quần áo người Thổ" ấy sau 100 năm liệu đã có hoàn toàn "biến" thành người Kinh mà hoàn toàn quên mất gốc gác, không còn lưu lại một chút ký ức nào của cha ông ?
Và liệu những gì xảy ra trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ấy ở Ninh Thuận cũng chính là những gì đã xảy ra ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số làng ở Thừa Thiên, Huế, Quảng Trị vào đầu thế kỷ 19?
Liệu đã đến lúc cần phải "trả lại cho Cesar cái gì của Cesar" hay là xem rằng cái gì đã qua thì hãy cho nó qua?
HTT