
... Đây là mùa mưa, ngày cá về đồng quậy ổ, mùa súng sen hoa nở ngát hương hè. Nọ mùa giăng câu, đêm sương rơi nằm chờ trăng sáng, chiều tát đìa bì bõm đến là vui. Mà vo nắm sóc so nấu nồi cơm gạo mới, xong ngồi ăn với cá rô ướp sả chiên vàng. Rồi ngồi nghe ai dề dà kể chuyện thời ấy là thế, mà nửa mừng nửa tủi ngày ấy chợt xa rồi. Tác giả bảo không làm văn chương, mà sao nghe trăm năm đồng vọng? Không viết về biên khảo, mà sao nghe lề nếp trở mình? (Tô Thẩm Huy)
Đó là vài lời nhận định gợi cảm xúc bồi hồi đến tác phẩm chưa đọc đã nghe khua thức xôn xao kỷ niệm, tác phẩm mới nhất của Lương Thư Trung:Mùa Màng Ngày Cũ do Thư Ấn Quán xuất bản năm 2011.
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả bốn phương những trang tiếp nối chắt lọc, lớp lang, đậm tình dân dã của cùng tác giả "Lá Thư Từ Kinh Xáng, Bến Bờ Còn Lại...."
Lời giới thiệu của Tô Thẩm Huy:
Mùa Màng Ngày Cũ. Bốn tiếng ấy đọc lên sao nghe xôn xao bao điều trong dạ. Nghe tiếng mưa lộp độp rơi trên mái tôn, nghe đong đưa giọng hàng rong ngân dài, khoan thai trong gió. Nghe hơi đất xông dậy ngày mưa xuống nắng lên. Nghe ấu thơ tung tăng, leo trèo, chạy chơi năm mười, tắm mưa, bắn bi, đá bóng. Tuổi thơ tôi êm đềm ven vùng ngoại ô Phú Nhuận. Thuở thanh bình mới di cư vào Nam dăm bẩy năm, đất ấy còn nhiều đồng không bãi trống, tha hồ chơi đùa, nghịch ngợm. Hết hái nhánh tầm ruột, tuột hết lá, cầm cái sống lưng làm thòng lọng rón rén đi bắt cắc kè, lại pha nước xà phòng đổ xuống hang mà lân la đi bắt dế cơm, hay đi "thám hiểm" loanh quanh đồi này xóm nọ, nhặt sọ người dưới kho nghĩa địa về doạ trẻ con trong xóm, rồi hôm sau vội vã đem trả vì nằm mơ thấy ma đến đòi lại.
Thế ấy, cầm sách trên tay, mới đọc cái tựa, đã nghe khua thức xôn xao mấy trời xưa cũ:
Đôi mắt ướt cung trời hội cũ,
Áo mầu xanh không xanh mãi trên đồi hoang.
(Tuệ Sỹ)
Đọc sử để biết vào năm ấy, tháng ấy, người ấy làm việc ấy. Nhưng muốn biết dưới thời ấy, người ta buồn vui, hạnh phúc ra sao, thương yêu, ganh ghét thế nào, thì sử ký có mà mù tịt. Tài tình đến là bộ sử Tư Mã Thiên cũng chả ra ngoài lệ ấy.
Thì? Thì chỉ còn cách theo thầy Tuệ Sỹ ngồi thắp đèn khuya mà kể chuyện trăng tàn. Chỉ còn cách dấn liều một cuộc tao phùng, lần giở cảo thơm Mùa Màng Ngày Cũ mà say sưa xao xuyến trước chân trời lục tỉnh đang bát ngát mở ra, la đà sông nước. Mà dãi dầm những mùa mưa mùa nắng. Mà thơ thới với cỏ cây, chơi đùa cùng chim cá. Mà lần theo nẻo đi lối về của cóc nhái, ếch lươn. Sống ở đây mà hồn cũng ở đây. Đây mùa mưa, ngày cá về đồng quậy ổ; mùa súng sen hoa nở ngát hương hè. Nọ mùa giăng câu, đêm sương rơi nằm chờ trăng sáng, chiều tát đìa bì bõm đến là vui. Mà vo nắm sóc so nấu nồi cơm gạo mới, xong ngồi ăn với cá rô ướp sả chiên vàng. Rồi ngồi nghe ai “dề da” kể chuyện thời ấy là thế ấy, mà nửa mừng nửa tủi ngày ấy chợt xa rồi. Tác giả bảo không làm văn chương, mà sao nghe trăm năm đồng vọng? Không viết biên khảo, mà sao nghe lề nếp trở mình?
Cái hồn ứng xử thuở dăm bẩy người xưa nhẩy ùm dưới rạch, xúc cá, lùa tôm, xong rủ nhau lên bờ ngồi xem dòng dọc làm tổ, cái hồn ấy nay còn đó không, hay đã lẩn trốn nơi nào? Cái nếp sống nhà quê hiền hoà ngày cũ nay có vì khốn khó mà đâm ra ăn thua, tranh giành hơn thiệt? Cái thiện lương đã mấy mươi đời sinh dưỡng nay có vì áp bức thời thế mà đâm ra chao đảo? Có vì ô nhiễm môi sinh mà đến nỗi tật nguyền? Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân. Trồng cây mười năm mà đốn cây mấy buổi? Trồng người trăm năm mà... biết là bao đỗi? Hay cái hồn ấy chặt không đứt, bứt không suy, vẫn theo những ngày mưa mà dạt dào rơi xuống, thấm sâu vào miền phù sa chan hoà ruộng lúa?

Bắt cá mùa nước nổi
Chao ôi! Gấp sách lại mà lòng dạ thêm bồi hồi, vương vấn. Ai gọi ai trong giấc mộng trước hiên nhà, sao đã nghe oanh ríu rít hỏi xuân về? Gẫm người xưa ghép miệng với lúa mà gọi chữ hoà không phải là không duyên cớ. Lời của kẻ nhà quê mà sao nghe như châu ngọc! Hoà với mưa mà thuận với nắng trời!
Tấc lòng cố quốc tha hương, ngậm ngùi cùng mùa xưa ngày cũ, chi bằng mượn lời Tô Thức mà dấn bước về thăm cõi lòng vạn đại của tác giả:
Nê cần hữu túc căn...
Xuân cưu hành khả khoái.
Như muốn cùng ai nhổ mớ rau cần còn nguyên cả rễ dưới bùn, đem trộn gỏi với thịt chim cu thái nhỏ, rồi nâng chén rượu ngồi nhìn xuân về ngoài ngõ.
TTH
Hai Mươi Ba Tháng Chạp, Tiết Đông Chí, Canh Dần
Lời giới thiệu của Phan Xuân Sinh:
Thường thường chúng ta đọc Lương Thư Trung với những bài viết nhận định văn học, giới thiệu tác giả và tác phẩm. Gần đây trên các website văn chương anh còn phỏng vấn một số nhà văn, nhà thơ. Nghĩa là tên của anh gắn liền với những gì gọi là văn chương. Những bài viết về vùng quê, về đồng ruộng, anh ký với một bút hiệu chân chất quê mùa, gần gũi với ruộng đồng, với bà con: Hai Trầu. Bút hiệu nầy nó đã trở thành sâu đậm trong lòng người đọc bấy lâu nay và cũng rất nhiều người nghĩ rằng anh hiện đang sống tại "Kinh Xáng Bốn Tổng", một vùng quê nào đó ở miền Nam, Việt Nam.

Lương Thư Trung và Phan Xuân Sinh
Vì sao vậy? Vì từ giọng nói, cách hành văn, đến những chất liệu, người đọc thấy rõ "ông Hai Trầu" của miệt vườn nói và viết rất rành mạch về con tôm, con cá, rong rêu, cây cỏ, lúa bắp v.v..., điều mà chỉ có người nông dân mới biết được. Không ngờ rằng "ông Hai Trầu" của ruộng vườn miền Nam lại đang ở rất gần, gần đâu đây, mà cũng rất xa, xa lắm mãi tận chốn quê nhà."Ông Hai Trầu" nói thay cho người nông dân những gì mà họ không diễn tả được, không nói lên được. Ông thay họ làm điều đó. Chữ nghĩa bề bề của ông làm ta phải giật mình vì ông đã biết vận dụng sự hiểu biết cùng kinh nghiệm làm ruộng mấy mươi năm của mình, đã mô tả tường tận sự việc một cách hợp lý, sâu sắc. Ông không những thay mặt nông dân nói lên công việc đồng áng của họ, mà khi ông viết về đồng quê, ta tưởng chừng như những cọng cỏ, con tôm, con cá, nó cũng nói lên được tâm tư, thân phận của mình.
Nói như vậy chỉ là một cách để nói rằng dù sống ở đâu, tâm hồn anh lúc nào cũng chìm vào những cánh đồng lúa bao la biết bao là lung vũng mà anh đã từng dầm mưa dãi nắng. Những giồng ranh, những bụi cỏ, những vạt rong đuôi chồn, những khóm mã đề tiềm tàng trong tâm trí anh. Dường như đó mới chính là đời sống thật của anh. Có vài bận cùng anh đi qua những đầm lầy, ao hồ, sông nước vùng Dallas hay vùng Louisiana, anh luôn tấm tắc, trằm trồ: "Khúc sông này nếu mình giăng ngang một tay lưới cá trắng thì hết sẩy" hoặc "Chỗ trấp này đặt một vạt ống trúm thì lươn chun vô đầy nhóc" vân vân...Hoặc vài bận ghé thăm anh, lúc nào tôi cũng được anh dẫn ra thăm mấy cái ao đầy bông súng, bông sen, rong đuôi chồn, gạc nai, và nhiều loài rong cỏ sống dưới nước, xanh tốt chen chúc nở bông. Từ đó tôi mới hiểu thế nào là nỗi lòng của một người nhà quê nhớ quê tha thiết như anh! Thành ra, đối với một người thương nhớ chốn cố hương thì đâu đâu họ cũng nhìn thấy quê hương của họ trước mặt.
Hôm nay, cầm trên tay "Mùa Màng Ngày Cũ" của Lương Thư Trung, đọc thấy trong Lời Mở Sách: "Ở đây không mang tính văn chương biên khảo, mà là những chất liệu góp nhặt từ công việc nông nghiệp của những ngày mùa mà người viết đã sống qua nơi chốn thôn quê của mình..." Có mang tính văn chương hay không tự thân nó nói lên điều ấy. Anh là người tự trọng và khiêm nhường, anh chỉ dám tự nhận mình là người nhà quê, anh không cho đây là tác phẩm văn chương. Thế nhưng theo tôi đây là tác phẩm văn chương đúng nghĩa nhất, dù anh viết về đồng quê. Anh lại dùng bút hiệu mà anh dành nó khi anh viết về văn học. Như vậy Lương Thư Trung cho ta đọc một tác phẩm văn học viết về đồng quê. Mặc dù anh chối từ điều nầy. Ta thử lật xem từ bài viết đầu đến bài viết cuối về Mùa Màng Ngày Cũ với cả một tấm lòng anh trang trải, chắt chiu. Người nông dân chân chất ít học, thì làm sao viết được, mà có viết được đi nữa thì làm sao nó sống động, hiện thực như anh viết. Chuyện văn chương chữ nghĩa, tôi nghĩ rằng người đọc họ sẽ thẩm định điều nầy.
Tôi là người miền Trung, lớn lên trong thành phố, nên khi đọc Mùa Màng Ngày Cũ tôi rất ngạc nhiên và thích thú. Cái đất miền Nam xa xôi ấy lại chứa rất nhiều điều bí ẩn mà vùng quê miền Trung hay miền Bắc không thấy và không nghe. Họ giàu có về đất đai đã đành mà họ còn giàu có về mùa màng, mà mùa nào cũng sung túc. Khi đọc ta tưởng chừng như phát hiện những bí ẩn mà lâu nay ta chưa hề nghe thấy. Tôi chưa bao giờ ăn thịt chuột, chưa bao giờ thấy con chuột đồng, thế mà khi đọc "Mùa Chuột" của Lương Thư Trung, tôi muốn gắp thử một miếng, bỏ vào miệng, và tôi nghĩ vị giác của tôi sẽ chết điếng vì ngon. Theo lời kể trong Mùa Màng Ngày Cũ thì bắt chuột cũng lắm công phu, nhiều cách khác nhau. Anh cũng đã phân tích cho người đọc biết lợi hại của mỗi cách. Làm thế nào để rút ra được kinh nghiệm thịt chuột hoàn chỉnh nhất, ngon nhất. Món ăn tôi thường nghe khi ghé qua một vài tỉnh miền Nam là món chuột nướng, dĩ nhiên nhiều cách nướng, không thua gì bò bảy món. Nhưng không ngờ thịt chuột cũng làm được rất nhiều món mà món nào nghe ra cũng thèm chảy nước miếng: "...Như chuột muối sả ớt chiên, chuột khìa nước dừa, chuột kho tương hột, chuột làm bánh xèo, chuột làm mắm, chuột nướng đất, chuột bằm xào lá cách, chuột bằm xào lá lốt, chuột xào kiệu, chuột xào hủ qua, chuột xào hành, chuột nấu cà ri, chuột kho mắm, chuột làm khô, chuột xào sả ớt, chuột bó bẹ chuối nướng.."

Bắt chuột đồng
Ngoài chuyện mùa chuột đồng còn có mùa bắt lươn bắt lịch. Lươn lịch được Lương Thư Trung xếp vào "mùa" thì đủ biết nó nhiều biết bao nhiêu. Khi còn nhỏ tôi về làng Kim Bồng ở Quảng Nam, đôi khi trông thấy người ta tát nước ao bắt cá và lươn. Con lươn ở ngoài quê tôi to nhất nó chỉ bằng ngón tay cái. Tát ao bắt lươn chỉ có vài con chứ làm gì có mùa lươn để bắt như trong Nam. Còn lịch tới mùa mưa dầm mới xuất hiện và con to nhất chỉ bằng chiếc đũa con. Khi đọc "mùa bắt lươn bắt lịch" trong Mùa Màng Ngày Cũ tôi mới biết rằng con lịch có thể to bằng ngón chân cái và nhiều vô số kể. Quả thật ruộng đồng miền Nam ưu đãi con người quá sức. Lương Thư Trung nói về lươn như sau: "Thường đâm lươn cặp theo các bờ kinh, các thềm đìa. Ngày xưa, dân ruộng đâm lươn nghề lắm. Có người xách giỏ và chỉa đi một hồi là có mấy ký lươn như chơi. Họ gặp hang lươn thổi "mà" là họ cứ cầm chỉa xom chung quanh, một hồi thế nào cũng trúng lươn nằm trong vùng đất sâu bên dưới." Chuyện bắt lươn bắt lịch anh kể rất tỉ mỉ làm cho người đọc cảm tưởng rằng anh là một nông dân chính hiệu, kể lể bằng kinh nghiệm sống và làm việc của chính mình. Thật ra anh là một nhà văn hay là một nông gia? Đúng ra thì cái nào cũng hợp tình hợp lý với anh và cái nào anh cũng đạt đến một cảnh giới tối ưu của nó.
Mùa Màng Ngày Cũ đã được Dương Văn Chung và Thái Lý phân tích một cách rõ ràng và chi li. Trên phương diện bạn bè cùng sinh hoạt với nhau trong các tạp chí văn nghệ, tôi nghĩ mình phải có bổn phận nói lên cho mọi người biết, đọc Mùa Màng Ngày Cũ phải cẩn trọng vì ngoài tính văn chương (dĩ nhiên) nó còn mang một sự nghiên cứu công phu mà người viết đã miệt mài làm việc, tra cứu, cân nhắc để hoàn thành ra nó... Chỉ vài trăm trang giấy nhưng người viết phải mất biết bao nhiêu thời gian. Người sinh trưởng tại miền Nam đọc để nhớ lại trên vùng đất mình sinh ra đã có các mùa màng từ xưa nhưng bây giờ đã mai một. Đọc để đánh thức lại mình, hồi tưởng lại trí nhớ, và để thương cho vùng đất màu mỡ của mình. Còn người miền Trung và miền Bắc đọc để biết rằng trên vùng đất anh em của mình có nhiều điều lạ lẫm, mùa nầy tiếp nối mùa kia không ngơi nghỉ. Cây lúa, con cá của miền Nam nó khác với quê mình chỗ nào. Để biết cái cực khổ của người nông dân miền Nam nhưng còn có cái để ăn, trong lúc người nông dân miền Trung miền Bắc cực khổ nhiều hơn nhưng cứ đói quanh năm.

Cất vó bắt cá
Trong hai mươi hai mùa màng ở miền Nam mà Lương Thư Trung đã đề cập thì miền Trung và miền Bắc chỉ có chừng năm, ba mùa, còn những thứ khác hình như không có. Đọc Mùa Màng Ngày Cũ để chúng ta biết rằng nơi ấy họ ít lo nghĩ về cái ăn, chỉ cần chăm chỉ một chút ngày hôm đó bụng họ sẽ đầy. Chiều về còn có thể tập trung vài người bạn nông dân ngồi nhậu tới chỉ, xuống mương xuống ao quơ quào một hồi có mồi nhấm nháp. Chứ nông dân miền Trung, miền Bắc làm gì được cái tiêu khiển có vẻ lịch lãm như vậy. Đầu tắt mặt tối cơm không đủ no, thiên tai luôn luôn chờ chực bỏ xuống đầu lúc nào không hay, người nông dân luôn luôn chống chọi với cuộc sống, với thiên nhiên.
Cám ơn Lương Thư Trung đã cho tôi những giây phút được nhìn về chốn cũ, được so sánh cuộc sống của người nông dân, được biết về vùng đất trù phú mà người dân các miền khác mơ ước và khi đọc xong Mùa Màng Ngày Cũ tôi mới nghiệm ra được, mới hiểu được tại sao người dân miền Nam họ rộng lượng, hiếu khách, thảo ăn, thảo uống, lòng họ chân chất, huỵch tẹt cũng chính vì vùng đất đã ưu đãi họ, đã nâng niu họ. Có lẽ thể hiện rõ ràng nhất trong câu vọng cổ mà họ hát, nó không đượm chất cầu kỳ, không bay bướm khó hiểu như câu Nam Ai Nam Bình của miền Trung hay câu Quan Họ của dân miền Bắc . Vùng đất ấy đã cưu mang biết bao nhiêu nhọc nhằn của dân tộc, chống đỡ và cứu giúp biết bao nhiêu tại họa của các miền khác.
PXS
Houston, những ngày đầu năm Kỷ Mão, 2011
Mua sách xin gởi thư về:
Lương Huỳnh Phương Thảo
13906 Eldridge Garden Circle, Houston, TX 77083
Email tác giả : haitrau7@yahoo.com
Giá: 18$ (shipping miễn phí) - Ghi tên Tina Lương